Vào ngày rằm tháng Bảy âm lịch, Hồ Tiểu — một người dân ở thôn Bàng Gia Trang, thành phố Trọng Hải — đã nhìn thấy Từ Nha trên đường núi ven thôn.
Lúc đó Hồ Tiểu vẫn chưa biết tên người thanh niên ngoại tỉnh này là gì, khi nhắc đến đặc điểm ngoại hình của Từ Nha, anh ta tả như sau: “Cậu thanh niên này nhìn cao cao gầy gầy, tóc dài chấm gáy, đội một chiếc mũ lưỡi trai màu đen, trông khá u uất đáng sợ. Trời nóng bức thế mà trên người cậu ta lại mặc chiếc áo sơ mi ca-rô màu xanh xám, xắn tay áo lên tới cùi chỏ… À, trên tay còn cầm một chiếc liềm hay dùng để cắt cỏ ở quê mình.”
Hồ Tiểu hôm đó đi lấy nước suối.
Thôn Bàng Gia nằm tựa lưng vào núi Lão Sơn, đi từ chỗ lấy nước “Nước Suối Tinh Khiết” ở đầu thôn về đến cửa nhà anh ta phải đi qua một con đường đất rộng và dài, bên sườn dốc ven đường là một dải bia mộ trắng xóa chen chúc nhau.
Đoạn đường này không có chỗ dừng chân nào khác, bình thường chẳng mấy ai muốn đi qua đây, thỉnh thoảng mới có vài ông lão bà lão cưỡi xe ba bánh đi ngang.
Hồ Tiểu hôm đó chạy xe điện, anh ta nhìn thấy cậu thanh niên này ngồi xổm trên gò đất ven đường, nét mặt căng thẳng nhìn chằm chằm vào một gốc cây cưa dở, thế là hiếu kỳ dừng xe lại.
“Tôi dòm gốc cây đó, mặt cắt còn mới lắm, chắc là cây mới chặt, nhưng ngẫm lại thấy sai sai. Rễ cây để lại một cái khoanh tròn bự chảng như cái bánh xe, cây đó phải to chừng ba người ôm mới xuể. Một cái cây to đùng mọc ven đường thế, tôi đi qua đây mỗi ngày chẳng lẽ lại không chú ý tới?” Hồ Tiểu nói, “Thế nên tôi mới nhìn kỹ gốc cây đó trước.”
Cảnh sát Trần hỏi: “Có gì bất thường không?”
Hồ Tiểu đáp: “Chẳng có gì cả.”
“Thế còn Từ Nha?”
“Cậu thanh niên đó cau mày, nhìn chằm chằm vào khoanh gỗ, trông vẻ sợ hãi lắm. Vì không quen biết nên tôi cũng chẳng tiện hỏi nhiều, chỉ buông một câu: ‘Ơ, ở đâu ra cái cây to đùng thế này nhỉ?'”
“Nghe thấy câu này, cậu thanh niên đó — à, gọi là Từ Nha — cái cậu Từ Nha đó ngẩng phắt đầu lên, mắt sáng rực nhìn tôi bảo: ‘Anh nhìn xem đây là cái gì? Anh nói xem đây là cái gì?!'”
“Tôi thấy lạ, tưởng cậu ta là công tử nhà giàu ở thành phố chẳng biết gì về đồng áng, bèn bảo: ‘Đây không phải gốc cây thì là cái gì?'”
“Từ Nha như trút được gánh nặng, cười khằng khặc mấy tiếng rồi bảo: ‘Tốt quá rồi, không phải thật, từ bi giả… từ bi giả!’ Cậu ta lập tức bổ mạnh chiếc liềm vào khoanh gỗ, rồi dùng sức giật phăng ra, làm tôi giật bắn cả mình!”
“Từ Nha nói tiếp: ‘Cảm ơn anh, cảm ơn anh…’, sau đó xách chiếc liềm bỏ đi. Tôi nhìn kỹ lại thì thấy trên lưỡi liềm của cậu ta còn đang nhỏ máu!”
“Đến khi tôi ngoảnh đầu nhìn lại, phát hiện cái khoanh gỗ đó đã biến mất ngay tại chỗ… Tôi cứ tưởng mình gặp ma, sợ muốn chết.”
Hồ Tiểu nói với cảnh sát, đêm qua con heo nái nhà anh ta đẻ khó, anh ta thức trắng một đêm không chợp mắt nên tinh thần có lẽ không được tỉnh táo lắm. Nhưng anh ta khẳng định mình tuyệt đối không nhìn lầm, gốc cây đó thực sự đã biến mất.
Cảnh sát Vương ghi chép lại tình huống này. Dựa theo mô tả ngoại hình, cậu thanh niên ngồi canh gốc cây đúng là Từ Nha, lúc đó trên tay cậu ta có cầm một chiếc liềm.
Chiếc liềm trong tay Từ Nha là mua từ gã đồ tể ở đầu thôn.
Đồ tể gặp Từ Nha còn sớm hơn cả Hồ Tiểu. Lúc đó Từ Nha đến sạp của gã mua hai cân thịt nạc vai, sau đó xách túi nilon rỉ máu đứng ngẩn ngơ hồi lâu.
Gã đồ tể họ Triệu sợ cậu nghĩ thịt không tươi nên bảo: “Thịt mới mổ chở đến đấy, còn nóng hổi!”
Thịt heo mới mổ, các sợi thần kinh vẫn chưa chết hẳn, bề mặt thịt đỏ sẽ co giật như sắp sống lại, nhìn rất rợn người. Đồ tể tính bày ra dọa cậu thanh niên kia, thế nhưng Từ Nha vẫn không hề có biểu cảm gì.
Từ Nha chỉ vào chiếc dao lọc xương đồ tể dùng để mổ heo, hỏi: “Cái này bán bao nhiêu tiền?”
Đồ tể đáp: “Cái này là cần câu cơm của tôi, ở đây không bán, cậu tìm tiệm kim khí mà mua.”
Từ Nha nói mình không tìm thấy chỗ, thế là lại nhìn vào giỏ xe ba bánh điện của gã, ánh mắt dừng lại ở chiếc liềm hoen gỉ bên trong. Đó là đồ làm nông của mẹ đồ tể bỏ quên trong đó.
Từ Nha lại nói: “Thế cái này bán cho tôi có được không?”
“Tôi thấy cậu thanh niên này quái gở rợn người nên không muốn nói nhiều. Với lại cậu ta đưa tận 100 tệ để mua cái liềm cùi hỏng hóc, kiểu gì tôi cũng hời nên đưa luôn cho cậu ta.” Đồ tể nói.
⁂
Thôn Bàng Gia dạo gần đây khá nhộn nhịp.
Lần gần nhất nơi này đông vui như vậy là vào năm 1970, khi đội khảo cổ của tỉnh tìm thấy di chỉ ở đây. Thời điểm đó chuyện này cũng gây ra tiếng vang lớn, nhưng Cục Văn hóa và Du lịch của thành phố làm ăn không ra sao, mãi mà không quảng bá được danh tiếng di tích “Mộ Khổng Lồ”, khiến thành phố Trọng Hải mất đi cơ hội tốt để trở thành điểm đến du lịch văn hóa.
Sau đó, bức tượng thần không đầu trong ngôi mộ bị trộm mất. Phía tỉnh không tiếp tục điều tra, cũng chẳng công bố nghiên cứu lớn nào về Mộ Khổng Lồ nữa.
Lúc tin tức truyền ra, dân làng còn thấy kỳ quặc: một thứ to lớn như thế mà bị trộm mất trong một đêm, còn chẳng có động tĩnh gì, tên trộm đó phải có bản lĩnh đến mức nào chứ?
49 năm trôi qua , lần này trong làng nhộn nhịp trở lại cũng là vì bức tượng thần.
Nhưng tượng thần lần này không phải do đội khảo cổ đào lên, mà là do lão Lưu trong làng nhặt được.
Lão Lưu năm nay 67 tuổi, năm phát hiện ra Mộ Khổng Lồ, lão là thanh niên vừa tròn 18 tuổi, rất xông xáo bám theo sau đội khảo cổ tỉnh.
Sau này Mộ Khổng Lồ chưa đào xong đã ngừng, lão Lưu thấy rất tiếc nuối. Dù đội khảo cổ đã rút đi, lão vẫn rất thích mò sang đó lượn lờ, như thể di tích trong núi Lão Sơn có sức hút thần bí nào đó.
Điều không ai ngờ tới là lão lượn lờ như vậy suốt năm mươi năm, mưa nắng không ngừng nghỉ.
Bí thư chi bộ thôn dẫn chuyên gia đến thôn khảo sát nhưng mãi không thấy bóng dáng lão Lưu đâu, chỉ có người con trai trông đần độn của lão Lưu đang ngồi trên một chiếc ghế xếp nhỏ sạch sẽ.
Bí thư vỗ vỗ vào mặt con trai lão Lưu, người đàn ông đó mới tỉnh lại. Anh ta lại nhìn chằm chằm vào bí thư rồi gục xuống khóc nức nở. Khớp xương miệng của con trai lão Lưu há rộng ra như bị lệch, lưỡi như bị ai đó kéo gạt ra ngoài khiến anh ta không thể nói thành lời.
Phải mất một lúc lâu anh ta mới hồi phục lại đôi chút.
“Bố tôi, bố tôi…” Con trai lão Lưu run rẩy thốt ra những từ ngữ không rõ ràng, liên tục lắc đầu, “Bố… bố tôi và một người đi vào núi sâu rồi. Họ… bố tôi biến thành…biến thành khác rồi.”
Bí thư thôn lấy làm kỳ lạ: “Vào núi thì cậu sợ cái gì? Bố cậu đi cùng với ai?”
Con trai lão Lưu nói: “Là… là một người ngoại tỉnh tên Từ Nha, hôm nay mới tới, bảo là muốn tìm bố tôi hỏi vài chuyện.”
⁂
Lúc Từ Nha đến hỏi tìm lão Lưu, ở nhà chỉ có một mình lão Lưu đang pha trà. Từ Nha ngồi xuống chiếc ghế xếp đối diện bàn, gác chiếc liềm vào góc tường bên cạnh.
Từ Nha kéo thấp vành mũ xuống. Cậu cũng không vòng vèo, đưa cho lão Lưu một xấp tiền giấy màu đỏ rồi nói: “Tôi muốn hỏi chuyện của đội khảo cổ năm 70. Mọi người đều bảo ông biết rõ, lúc đó trong đội có phải có một người tên là Thiên Tổng Bảo không?”
Lão Lưu cũng không hỏi cậu từ đâu đến, bĩu môi đắc ý, liếc nhìn xấp tiền rồi bảo: “Cậu là nhà báo à?”
Từ Nha nói dối: “Vâng.”
“Đúng thế, Thiên Tổng Bảo là người địa phương, vốn dĩ là một kẻ trộm mộ. Vì tay nghề đào mộ quá cao siêu nên được đội khảo cổ chiêu mộ… Thời đó quản lý cũng không chặt, thế là ông ta cứ vậy mà tẩy trắng danh tiếng của mình.” Lão Lưu nói, “Mộ Khổng Lồ chính là do ông ta dẫn đầu tìm ra đấy.”
Giọng Từ Nha vô cớ trở nên âm u: “Ông ta có con cháu gì không?”
Lão Lưu đáp: “Trong nhà ông ta có phụ nữ mang thai, nhưng lúc Thiên Tổng Bảo mất tích, vợ ông ta cũng biến mất theo, không biết rốt cuộc có sinh con ra hay không.”
“Lúc đó có bao nhiêu người nhìn thấy bức tượng thần không đầu trong ngôi mộ đó?”
“Nhiều người lắm, cậu bảo tôi đếm cho cậu thì đếm sao nổi!”
Những câu hỏi của Từ Nha khá đơn giản. Họ trò chuyện thêm một lúc lâu, hai người nói chuyện cho đến khi con trai lão Lưu trở về.
Anh ta chạy về nhà, cầm ấm trà của bố lên húp một ngụm lớn rồi bảo: “Bố! Thứ bố nhặt được hình như là bảo vật thật đấy! Bí thư thôn dẫn chuyên gia trên tỉnh đến tìm bố kìa, bảo bố ở nhà chờ đấy!”
Từ Nha ngẩng đầu, tiện miệng hỏi một câu: “Nhặt được đồ sao?”
“Là một vị thần lớn,” Lão Lưu thần thần bí bí chỉ về phía con đường dẫn vào sâu trong núi Lão Sơn, nói, “Đào được ngay trong di tích đấy.”
Từ Nha quay trở lại chủ đề đội khảo cổ, rút từ túi áo sơ mi ra một tấm ảnh thẻ trông khá cũ kỹ, đưa qua rồi hỏi: “Trong đội có phải có một người tên là Diêu Nhuận Bình không?”
Nhìn thấy người phụ nữ trong ảnh, lão Lưu đột nhiên nhe răng cười. Lão húp một ngụm trà, nhai nhai mớ lá trà màu nâu vàng trong miệng, bã trà rỉ ra từ kẽ răng vàng ố, nhìn trông như xác sâu bọ.
Lão Lưu “phẹt” một cái nhè bã trà ra, cười khùng khục: “Con mụ này là một con hồ ly tinh, một con đĩ.”
“Mụ ta suốt ngày lảng vảng cùng một lũ đàn ông bán mặt cho đất bán lưng cho trời. Tôi nhìn thấy mụ ta mùa hè ở trong núi xắn ống quần, tay áo lên tận vai, để lộ bắp tay với bắp chân trắng hớn ra để quyến rũ người ta. Đàn bà tử tế đố ai dám hở hang như thế.” Lão Lưu nói, “Mấy tên háo sắc ngốc nghếch trên tỉnh lại tuyển một đứa đàn bà vào đội, động thổ ngay trên mộ thần linh mà không sợ bị quở phạt. Với lại, mụ ta làm việc làm sao theo kịp đám đàn ông sức dài vai rộng?”
Con trai lão Lưu nhíu mày, anh ta cảm thấy bố mình có gì đó không đúng — nhắc đến Diêu Nhuận Bình, hai con mắt lồi của lão Lưu trợn ngược lên dữ dội hơn, như thể muốn lọt cả tròng mắt ra ngoài. Mao mạch máu màu xanh nổi lên dưới da trông như những con dòi bọ, nhúc nhích theo mỗi lần chớp mắt.
Lão Lưu lắc lắc chén trà, cất xấp tiền trăm tệ vào túi rồi thì thầm: “Mộ Khổng Lồ xảy ra chuyện nhất định là do con mụ đó hại, vì mụ ta không tuân theo quy tắc… Cậu còn muốn hỏi gì nữa không?”
Con trai lão Lưu sợ hãi lên tiếng: “Bố, mắt bố bị làm sao thế?”
Lời vừa dứt, hai tròng mắt Từ Nha trợn trừng lên, sự sợ hãi như đàn chim giật mình hoảng loạn tức thì tụ lại trên khuôn mặt cậu, lấn át dáng vẻ bình thản ban nãy.
Cậu trố mắt nhìn lão Lưu đang nhai lá trà, rồi cứng đờ quay đầu nhìn sang con trai lão Lưu.
Con trai lão Lưu bị cậu nhìn như vậy thì rùng mình một cái.
Từ Nha hỏi: “Anh nói… cái gì?”
Con trai lão Lưu bị cậu làm cho khiếp vía, sợ hãi đáp: “Tôi nói, bố tôi… trong mắt bố tôi có sâu… có dòi xanh…á!”
Ngay sau đó là hai tiếng “phập”, “choảng” vang lên, nối tiếp là tiếng gào thảm thiết nhọn hoắt của con trai lão Lưu: “Á——!”
Là Từ Nha giơ cao chiếc liềm, từ phía bên phập mạnh vào đầu lão Lưu. Lưỡi liềm xuyên thấu toàn bộ hộp sọ của lão Lưu dễ dàng như bổ một quả dưa hấu. Cậu chồm dậy quá đột ngột, động tác quá mạnh đã hất đổ cả bàn trà.
Thái dương Từ Nha giật liên hồi, cậu lại dùng sức vung mạnh cánh tay, lưỡi liềm kéo theo não và máu thịt ra, “phụt” một cái, máu tươi bắn lên mặt cậu.
Lúc này, bộ não của lão Lưu nứt ra thành sáu cánh. Từ trên xuống dưới nở bung ra như một bông hoa, thịt óc be bét máu tươi phơi ra trong không khí.
Khối óc dần dần biến thành màu đen, tan chảy ra. Ngay sau đó, cả thân thể lão hóa thành một khối thịt thối màu đen bọc trong đống quần áo, từng cụm sâu màu xanh dài bằng ngón tay trỏ điên cuồng nhúc nhích bên trong.
Sau khi cục thịt thối nhão nhoét vỡ ra, lũ sâu bọ như dòng lũ điên cuồng tràn ra ngoài, những con dòi trắng dài chui vào mái hiên, bò vào kẽ tường và sàn nhà, chớp mắt đã biến mất không dấu vết.
Cảnh tượng quái dị này làm con trai lão Lưu sợ đến mức ngã ngửa ngồi bệt xuống đất, gào lên hốt hoảng: “Á—— á!!”
Tròng mắt còn sót lại của lão Lưu gắn chặt trong khối thịt nhầy nhụa đó, hai thủy tinh thể bị sâu bọ đục thủng mấy lỗ. Cái miệng đung đưa trên lớp thịt lỏng đục ngầu, biến dạng theo từng cơn co giật của khối thịt, gào lên đau đớn: “Đau, đau quá!”
Con trai lão Lưu gào thảm thiết: “Á—— Á!!! Bố!! Bố làm sao thế này bố ơi!”
Khối thịt thối màu đen nhanh chóng lăn tròn, nó mọc ra một cái đầu với tai to cùng hai chân trước, một chân sau, vừa nhảy vừa bò tháo chạy về phía con đường dẫn vào núi sâu, để lại một dải vết chân đen ngòm dọc đường. Nó vứt bỏ lại quần áo, lớp da, tim gan phèo phổi và tròng mắt của lão Lưu — điên cuồng bỏ chạy.
Người con trai chỉ tay vào thứ đó, gào lên xé lòng xé ruột: “Bố… heo, heo!”
Biểu cảm của Từ Nha đóng băng lại, giống như một pho tượng gỗ mất đi cảm giác, cậu sải bước đuổi theo.
Tay cậu siết chặt chiếc liềm dính máu, thở hồng hộc, một tay bóp chặt lấy cổ con heo đen đang muốn tháo chạy kia.
Nước đen từ cục thịt thối trào ra qua kẽ tay cậu, nó giãy giụa phát ra tiếng kêu gào kinh hoàng của một con heo con.
Từ Nha ngơ ngác bóp lấy con “heo” đen ngòm đó, nét mặt đau đớn nuốt một ngụm nước bọt, trong miệng lẩm nhẩm hai câu: “Từ bi thật… từ bi thật, phải ăn…”
Từ Nha cúi đầu, mở miệng ngoạm lấy.