Dạo gần đây, Bách Hựu Thanh phát hiện ra hình như mình bị theo dõi.
Mấy ngày nay cứ hễ y bước chân ra khỏi nhà, dù là lên núi nhặt củi hay xuống ruộng cắt rau bèo cho lợn, y đều cảm giác có ai đó đang dõi theo mình. Nhưng đến khi y chú ý quan sát thì cảm giác bị dòm ngó ấy lại đột ngột biến mất không dấu vết, hệt như là ảo giác.
Có một lần đang giặt đồ bên bờ suối, lúc dùng chày đập quả bồ kết, y vô tình cảm thấy có điều gì đó bất thường nên quay đầu lại, nhìn thấy một bóng người mờ ảo đứng lấp ló giữa vòm cây, nhưng chỉ trong chớp mắt, bóng dáng ấy đã biến mất.
“…”
Thật là kỳ quái.
Nhưng Bách Hựu Thanh tạm thời không mấy bận tâm, khoảng thời gian này y còn có việc quan trọng hơn phải làm.
Hằng năm vào tầm tháng Hai, tháng Ba, Trúc Nương đều sẽ ra ngoài khám bệnh lưu động. Bà sẽ ghé qua mấy bản trại xung quanh để bốc thuốc cho dân làng, đi một lèo mấy ngày liền mới về, để một mình Bách Hựu Thanh ở lại trông nhà.
Vào ngày bà khởi hành, Bách Hựu Thanh nhét đầy măng khô, thịt muối cùng lương thực vào túi nải của Trúc Nương, chật ních không còn một kẽ hở. Y tiễn bà cùng mấy người dân trong trại ra tận cổng trại, đứng nhìn bóng dáng họ xa dần rồi khuất hẳn nơi cuối đường núi.
Bách Hựu Thanh chớp chớp mắt, giọt lệ to bằng hạt bắp nơi khóe mắt lập tức biến mất sạch sẽ.
Y tung tăng cất bước chân nhẹ nhàng trở về nhà, đeo gùi trúc, giắt rìu lên lưng rồi lại ra khỏi cửa.
Lần này y không đi ra cổng trại mà đi thẳng về hướng núi sau.
Sau khi chuyện Biến Bà được giải quyết, trại Vũ Sơn đã khôi phục lại vẻ yên bình. Dân trại ai nấy đều bận rộn với vụ xuân, đa số đang tất bật chuẩn bị cày cấy. Trên đường gặp người quen, Bách Hựu Thanh chủ động cất lời chào, mọi người đều mặc định là y đi đưa cơm cho mẹ nuôi nên mỉm cười gật đầu đáp lại, chẳng hỏi gì thêm.
Đi tới thác nước sau núi thì thưa người hẳn, trong rừng ngập tràn tiếng chim hót ríu rít, chỗ nào cũng nhộn nhịp.
Bước qua cây cầu gỗ, Bách Hựu Thanh nhìn về căn nhà trúc xa xa. Ngập ngừng một hồi, y vẫn quyết định không đi tới đó.
Sau đêm hôm ấy, y từng tới tìm Cổ Tiên thêm hai lần nữa nhưng lần nào cũng hụt hẫng trở về. Đối phương xem chừng không thích gặp người khác, suy đi tính lại, y quyết định tốt nhất là đừng tự mò đến làm người ta đâm ghét mình ra.
Bách Hựu Thanh ngắt một chiếc lá trúc, cuốn lại thành cái còi rồi thổi hai tiếng dài. Chỉ một lát sau, chú nai nước nhỏ A Hoàng đã chui ra từ bụi cỏ dại, dùng đầu chồm vào lòng y dụi dụi. Bách Hựu Thanh đút cho nó hai quả dại to rồi dịu giọng: “A Hoàng ngoan, lại phải phiền tới mày rồi.”
A Hoàng như hiểu ý, cọ cọ cằm y.
Phía sau trại Vũ Sơn là một thung lũng sâu hun hút, rừng già rậm rạp, chẳng mấy dấu chân người. Nơi đây không chỉ có đủ loại thú dữ cùng côn trùng độc hoành hành, mà còn rất dễ đụng độ yêu tinh trong núi, vốn là vùng cấm địa của dân trong trại. Không riêng gì trại Vũ Sơn, đa phần dãy núi Phượng Hoàng đều là những khu rừng già trải dài vô tận, người bình thường mò vào thì có gan đi chứ khó có mạng về, ngay cả một số tu sĩ cũng chẳng dám liều lĩnh đặt chân tới.
Thế nhưng người xưa có câu: Liều thì ăn nhiều.
Rừng già tuy nguy hiểm nhưng linh thảo mọc thành từng cụm, còn có không ít cây thuốc ngàn vàng khó kiếm. Thế nên năm lần bảy lượt, vẫn có kẻ lén lút mò vào hái trộm, để rồi cuối cùng bỏ mạng nơi sơn dã. Lúc được phát hiện thì đầu một nơi, thân một nẻo, gan ruột nát bét, đến gom xác cũng là cả một vấn đề.
Dù là Bách Hựu Thanh muốn đi qua con đường này cũng phải tốn không ít công sức.
Một người một nai băng qua sườn dốc, xuyên qua khu rừng già xanh rì, rồi dẫm lên những mỏm đá nhấp nhô để vượt qua con suối nhỏ. Giữa đường nhìn thấy một con chim hai đầu mào đỏ đuôi dài, chiếc mỏ dài nhọn sắc bén tới mức có thể đâm xuyên sọ người. May mà con chim không có hứng thú với một người một nai, đứng trên cành rỉa lông một lúc rồi vỗ cánh bay đi.
Đến giữa trưa, Bách Hựu Thanh mới ngồi xuống nghỉ ngơi một chút, uống ngụm nước rồi gặm nửa cái bánh, nửa còn lại y chia cho A Hoàng cùng mấy con chim sẻ núi đến ăn chực, sau đó lại tiếp tục lên đường.
Đi thêm tầm nửa canh giờ nữa, cuối cùng y cũng tới được lối ra thung lũng nằm ngoài rìa núi.
Nơi này tầm nhìn thoáng đãng, Bách Hựu Thanh ngó nghiêng một vòng rồi thổi ba tiếng còi ngắn. Bụi cây cách đó không xa động đậy, một bóng người khả nghi chậm chạp bước ra.
Người này đội chiếc nón lá, trên lưng địu một chiếc hòm, trên tay túm hai bụi cây dùng để che mặt, là một anh lái buôn trẻ tầm hai mươi tuổi.
Bách Hựu Thanh nhìn dáng vẻ lén lút thập thò của anh ta mà không chịu nổi: “Đừng trốn nữa, không có ai đâu.”
Anh lái buôn vứt hai cành lá sang một bên, than ngắn thở dài: “Tổ tông ơi, ông cố tổ của tôi ơi, tôi đợi cậu mấy ngày nay rồi đấy! Đoàn lái buôn sáng mai là phải đi rồi mà giờ cậu mới mò tới. Một chàng trai yếu đuối như tôi, trói gà không chặt, lỡ bị họ bỏ lại ở cái chốn hoang vu hẻo lánh ma chê quỷ hờn này thì sao? Thế chẳng phải ngồi chờ chết à!”
“Yếu đuối mà trước đây còn dám một mình lẻn vào đây hái trộm thuốc, giờ lại biết sợ chết cơ đấy.” Bách Hựu Thanh đặt gùi trúc xuống rồi nói: “Với lại đoàn lái buôn có đi thì cũng chẳng sao, A Hoàng biết đường, anh cứ đi theo nó là ra ngoài được.”
Anh lái buôn: “Tôi đi theo nó á? Gặp phải nguy hiểm thì bốn cái chân nai của nó chạy còn nhanh hơn tôi đấy!”
A Hoàng hếch mũi phì một hơi thẳng vào mặt anh ta, anh lái buôn đành giơ tay chịu thua.
Người này tên là Tôn Đắc Tài, quen biết Bách Hựu Thanh từ hai năm trước. Khi đó anh ta mò vào núi hái thuốc trộm rồi bị lạc đường, suýt chút nữa chết đói, may mắn được Bách Hựu Thanh đi ngang qua phát hiện nên mới giữ lại được một cái mạng, từ đó hai người bắt đầu quen biết. Sau này mỗi lần có đoàn lái buôn đi ngang qua trấn trên, anh ta đều tìm cơ hội trốn tới gần thung lũng gặp Bách Hựu Thanh để đổi hàng lấy đồ, coi như đôi bên cùng có lợi.
Bách Hựu Thanh ném cho hắn một gói thảo dược: “Cầm lấy.”
“Ôi ôi nhẹ tay chút tổ tông ơi, hỏng mất bây giờ!” Tôn Đắc Tài chụp lấy gói thuốc rồi cẩn thận mở ra ngửi ngửi, không nhịn được gặng hỏi: “Sao lại không có Bạch Vân Hương thế?”
Bạch Vân Hương là nhựa của cây phong hương, vừa làm thuốc vừa chế hương được, thành phẩm rất tốt nên cực kỳ được giới văn nhân ưa chuộng. Trước đây Bách Hựu Thanh toàn mang tới khoảng nửa cục, nhưng dạo này y không hái được nhiều, có bao nhiêu cũng đưa cho Trúc Nương làm dược liệu hết rồi nên không có dư, bèn lấy lệ: “Không có thì thôi chứ sao, bấy nhiêu đây lẽ nào chưa đủ cho anh bán à? Đồ tôi cần đâu?”
“Mang theo rồi, đủ cả đây.”
Anh lái buôn nhanh nhảu cất kỹ gói thuốc, từ dưới nắp hòm lôi ra một chiếc túi vải đưa cho Bách Hựu Thanh. Bách Hựu Thanh mở túi vải ra xem một cái rồi nhét vào gùi đeo lên lưng, quay người định bước đi.
Anh lái buôn gọi giật y lại: “Ông cố tổ của tôi ơi!”
Bách Hựu Thanh ngoảnh đầu lại: “Còn chuyện gì nữa?”
“Thì là… thuốc giải cổ ấy mà.” Tôn Đắc Tài mặt dày xoa xoa tay: “Lần này cậu chưa đưa thuốc giải cho tôi đâu đấy.”
Bách Hựu Thanh lúc này mới nhớ ra, từ trong tay áo móc ra một lọ nhỏ quăng cho hắn, rồi cùng A Hoàng rời đi.
Lúc trở lại núi thì mặt trời đã ngả về tây.
Bách Hựu Thanh thắp hương bái lễ cây phong già ở lưng chừng núi, dòm trước ngó sau xác định xung quanh không có ai mới đẩy bệ đá ra. Y móc từ trong hố phía dưới ra một cái hộp gỗ nhỏ.
Cái hộp rất thô sơ, lắm dằm gỗ, trông hệt như đồ chơi do con nít tự đẽo gọt. Thế nhưng Bách Hựu Thanh lại cẩn thận phủi sạch đất bám trên đó rồi nhẹ nhàng mở nắp hộp ra. Bên trong đặt mấy viên đá trong suốt như thủy tinh, bề mặt tỏa ra luồng sáng luân chuyển, bên trong ẩn chứa linh khí dạt dào, rõ ràng không phải thứ của người phàm mắt thịt.
Đây chính là linh thạch — đơn vị tiền tệ lưu thông giữa các tu sĩ ở thế giới bên ngoài.
Y đếm đi đếm lại, không thiếu viên nào. Y lại lôi từ trong túi vải anh lái buôn đưa ra một viên mới, lau sạch rồi bỏ vào trong hộp, đếm lại một lượt nữa: Tổng cộng sáu viên.
Anh lái buôn chỉ là người thường, muốn kiếm được một viên linh thạch chẳng phải chuyện dễ dàng gì nên lúc có lúc không. Bách Hựu Thanh đã tính toán rồi, giả sử mỗi năm y đổi được hai viên, đến khi trưởng thành tích lũy đủ linh thạch là có thể tìm một tiên môn để bái sư học đạo rồi, biết đâu chừng còn dư dả để tự mua cho mình một thanh kiếm.
Trúc Nương chê phiền không đưa y ra ngoài, vậy thì tự y đi, chẳng lẽ còn không được sao?
Bách Hựu Thanh càng nghĩ càng thấy tương lai rộng mở. Y cất hộp gỗ trở lại, lấp đất lên rồi đè bệ đá lại như cũ, thì thầm: “Làm phiền mẹ nuôi giúp con trông nom thêm vài năm nữa nhé. Sau này con ra ngoài làm nên trò trống, trở thành kiếm tu được nhiều tiền rồi, ngày nào con cũng cúng linh thạch cho mẹ nuôi ăn thay cơm! Mẹ nuôi cũng nhờ đó mà tu ra được hình người đi chơi, chứ không cứ ngồi cô đơn một mình ở đây thì chán chết.”
Phía sau đột nhiên vang lên một giọng nói: “Cậu muốn tu tiên à?”
Bách Hựu Thanh sợ tới mức mất hồn, vơ ngay chiếc rìu vung mạnh về phía sau, nhưng người tới đã nghiêng mình né được. Nhờ vậy y mới nhìn rõ khuôn mặt của đối phương, miễn cưỡng kìm lại ý định vung nhát thứ hai, ngơ ngác gọi: “Cổ… A Ngọc?”
A Ngọc lùi lại hai bước, không đáp lại cũng chẳng buồn đính chính cách xưng hô này, chỉ lặng lẽ nhìn y.
Mấy ngày không gặp, Bách Hựu Thanh phát hiện sắc mặt hắn có vẻ càng thêm nhợt nhạt, nhưng làn da lại sạch sẽ tinh tươm, vết thương do tầm ma đâm hôm nọ đã lành hẳn.
“Sao cậu lại ở đây?” Bách Hựu Thanh hỏi xong mới nhận ra đây là một câu hỏi thừa vãi, bèn đổi giọng: “Cậu tới từ lúc nào thế?”
A Ngọc đáp: “Đi ngang qua, đúng lúc cậu đang thắp hương.”
Bách Hựu Thanh sực tỉnh: “Thế là cậu thấy hết rồi à?”
“Thấy rồi.” A Ngọc khựng lại một chút: “Cả việc cậu nói chuyện với một người, người đó còn đòi cậu thuốc giải cổ nữa.”
Bách Hựu Thanh nghe vậy thì ngẩn người, trợn tròn mắt, sau đó lập tức ra đòn phủ đầu: “Được lắm, hóa ra là cậu cứ bám theo tôi suốt mấy ngày nay!”
“…” A Ngọc: “Không phải tôi.”
Bách Hựu Thanh: “Thế thì còn ai vào đây nữa? Cả cái bản Vũ Sơn này chỉ có mỗi cậu là xuất thần nhập quỷ thôi đấy!”
Lời còn chưa nói xong, y cảm thấy bắp chân hơi ngứa ngứa. Cúi đầu nhìn xuống, một con rết đen khổng lồ đang cuộn tròn khoắc lấy ống quần y, chính là con đã đại chiến với Biến Bà hôm nọ!
Bách Hựu Thanh ngẩng đầu lên: “Đây là đang đe dọa tôi đấy à?”
“Không phải, là tự nó muốn bò đến đó.” Giọng điệu của A Ngọc thoáng hiện lên một sự ghét bỏ rõ rệt, chẳng biết là nhắm vào y hay nhắm vào ai khác.
Bách Hựu Thanh không dám nhúc nhích. Không phải y sợ sâu bọ, mà là vì bà chị rết này còn đánh bại được cả Biến Bà, nhỡ may chích y một cái thì cái thân ma ốm này của y chỉ có nước chầu trời ngay tại chỗ, dẹp luôn giấc mộng kiếm tu.
A Ngọc tiến lại gần, con rết mới ngoan ngoãn bò đi chỗ khác. Bách Hựu Thanh vừa thở phào một hơi lại nghe hắn hỏi: “Trên người cậu không có cổ, thuốc giải cổ là sao?”
“… Cậu thật sự muốn biết à?”
“Nói đi.”
“Nhưng tôi đi đường suốt một ngày rồi, giờ vừa khát vừa đói lại vừa mệt, chẳng muốn nói chút nào.” Bách Hựu Thanh quăng rìu trở lại gùi trúc, nhìn bầu trời đã sẩm tối rồi đề nghị: “Hay là cậu đi cùng tôi trước đi, đợi tôi về nhà ăn uống no nê rồi tôi từ từ kể cho cậu nghe, thấy sao?”
A Ngọc cau mày lại như muốn từ chối, nhưng Bách Hựu Thanh đã dọn dẹp xong đồ đạc rồi đeo lên lưng, đẩy hắn đi: “Yên tâm đi, mẹ tôi dạo này không có nhà, trong nhà chỉ có mình tôi thôi, tối nay tôi nấu cơm, cậu muốn ăn gì tôi nấu cho.”
Bách Hựu Thanh cố tình chọn con đường hẻo lánh để xuống núi nên trên đường về không gặp phải ai. Lúc về tới nhà thì trời đã tối mịt, đẩy cửa bước vào, gian khách tối om.
Y mò tới cạnh bếp lửa, lấy cành cây nhỏ bới đống tro ra, đốm lửa ẩn bên dưới lập tức bùng cháy, căn nhà tối om cũng theo đó mà sáng lên.
Bách Hựu Thanh đứng dậy: “Cứ tự nhiên ngồi chơi một lúc đi, cơm xong tôi gọi.”
Thế nhưng A Ngọc lại đứng cách y rất xa, ánh mắt lạnh lẽo nhìn ngọn lửa đang bùng lên trong bếp. Con rết đen cũng cuộn tròn lại bên cửa ra vào, rụt rè không dám bò vào trong.
Cổ trùng sợ lửa, sợ ánh sáng.
Nhận ra điều này, Bách Hựu Thanh suy nghĩ một chút rồi bảo: “Thế thì đổi chỗ khác, cậu đi theo tôi.”
Y dẫn người vào trong phòng mình, châm một ngọn đèn dầu đặt lên trên đế gốm. Bình thường y đọc sách cũng không nỡ dùng đèn dầu, nhìn mà thấy hơi xót ruột, nhưng may là có hiệu quả: Ánh lửa dịu đi, A Ngọc cuối cùng cũng chịu ngồi xuống bên bàn.
Sau khi sắp xếp cho người ta xong xuôi, Bách Hựu Thanh lại ra gian bếp bận rộn một hồi, chén đĩa loảng xoảng, cuối cùng bê lên một món mặn một món canh: Măng xuân xào thịt treo khói và canh cá hoa lúa.
(*) 禾花鱼汤 (canh cá hoa lúa) là món canh đặc sản nổi tiếng của vùng Quế Lâm, Quảng Tây và Hồ Nam (Trung Quốc), nấu từ loài cá chép hoa lúa sống trong ruộng lúa. Nước canh có màu trắng sữa, vị ngọt thanh béo ngậy và mùi thơm đặc trưng.
Thức ăn dọn lên bàn còn nghi ngút khói nóng, hương thơm nồng nàn. Y múc một bát canh đặt trước mặt A Ngọc rồi ra hiệu: “Đợi nguội rồi hẵng uống.”
A Ngọc lại chậm rãi cất lời: “Không ai nói với cậu là đừng bao giờ ăn uống trước mặt người biết hạ cổ à?”
Bách Hựu Thanh hỏi lại: “Thế thì sao, cậu sẽ thả cổ hại tôi chắc?”
A Ngọc hỏi ngược lại: “Cậu nghĩ sao?”
“Tôi nghĩ là không.” Bách Hựu Thanh ngồi xuống đối diện, cũng tự múc cho mình một bát canh: “Nếu cậu muốn hại tôi thì đã ra tay từ lâu rồi, việc gì trước đây phải cứu tôi tới hai lần?”
A Ngọc cãi lại: “Đó không phải là vì muốn cứu cậu…”
Bách Hựu Thanh không bận tâm: “Nhưng kết quả là tôi được cứu, điều này không sai đúng không? Được rồi, cậu không đói à, mau ăn đi.”
Ngọn măng ăn vào giòn ngọt tươi ngon, thịt treo khói đậm đà vừa miệng, nước canh cá ngọt thanh. Tướng ăn của Bách Hựu Thanh khá lịch sự, yên lặng mà gọn gàng, rất tự nhiên như thể không có người ngoài ở đây. A Ngọc chằm chằm nhìn y một hồi lâu, cuối cùng mới chịu cầm đũa lên.
Một lúc sau, hắn gắp một lá rau rừng trong bát canh lên hỏi: “Đây là gì?”
Bách Hựu Thanh lướt mắt nhìn rồi đáp: “Lá tầm ma đấy.” Sau đó y còn cố tình bổ sung thêm một câu: “Chính là cái thứ hôm nọ làm hai đứa mình đau suýt chết đấy.”
A Ngọc “…”
Vẻ chán ghét cùng nghi ngờ trên mặt hắn hiện rõ mồn một, Bách Hựu Thanh không nhịn được cười: “Đây là đồ tốt đấy nhá, nấu chín rồi thì không châm chích nữa đâu, ăn được mà, cậu ăn thử xem.”
Sau năm lần bảy lượt dụ dỗ, A Ngọc mới miễn cưỡng há miệng nuốt vào.
Bách Hựu Thanh hỏi: “Ngon không?”
A Ngọc im lặng một lúc rồi chậm rãi gật đầu.
Bách Hựu Thanh lại múc thêm cho hắn hai muỗng nữa.
Sau bữa ăn dọn dẹp xong xuôi, A Ngọc mới hỏi: “Thế chuyện thuốc giải cổ là thế nào?”
“Đồ giả thôi, chính là hạt sử quân tử, vỏ cây sầu đâu trộn với cam thảo, mấy loại thuốc chữa bệnh giun sán thông thường ấy mà.” Bách Hựu Thanh thong thả giải thích: “Tên lái buôn đó trước đây lén mò vào núi đào thuốc, làm hỏng mất mấy mảng rễ tốt của tôi, bị tôi phát hiện lại còn khua môi múa mép bảo là mình đi nhầm đường. Tôi muốn cho anh ta một bài học nên đã lấy rượu gạo pha nước cho hắn uống.”
Sau đó anh lái buôn bị đau bụng dữ dội, trước khi tới chắc cũng nghe đồn người trong trại biết thả cổ nên tưởng mình trúng cổ thật, vừa dập đầu vừa khóc lóc van xin Bách Hựu Thanh đưa thuốc giải. Bách Hựu Thanh tương kế tự kế, dùng chuyện này uy hiếp không cho anh ta tới hái trộm thuốc nữa, đồng thời lập ước định cứ ba tháng một lần gặp nhau ở lối ra thung lũng, mang cho y ít hàng hóa cùng tin tức bên ngoài.
A Ngọc nghe xong thì đánh giá: “Đây là hành vi lừa đảo.”
“Là anh ta gạt người trước, không trách tôi được.” Bách Hựu Thanh chuyển hướng câu chuyện: “Còn cậu nữa, ăn cơm tôi nấu rồi, cậu có biết điều đó có nghĩa là gì không?”
A Ngọc tăng thêm vài phần cảnh giác: “Có nghĩa là gì?”
“Có nghĩa là ăn của chùa rồi thì phải quét lá đa, cậu phải giúp tôi giữ bí mật.” Bách Hựu Thanh hạ giọng mềm mỏng, nhỏ nhẹ nhờ vả: “Đừng đem chuyện hôm nay thấy kể cho người khác nghe, được không?”
Nghe vậy, vẻ mặt căng thẳng của A Ngọc mới thả lỏng.
Hắn bình thản đáp: “Cậu lo xa quá rồi. Tôi làm gì có người khác để mà kể.”
Bách Hựu Thanh thầm nghĩ cũng đúng. Y lại hỏi: “Hay là để tôi giới thiệu vài người cho cậu quen nhé? Cậu ở một mình sau núi xa xôi quá, kiểu gì cũng có chút bất tiện.”
“Không cần.” A Ngọc rủ mi, dưới mắt là một mảng bóng râm nho nhỏ: “Với cả cũng chẳng có ai muốn làm quen với tôi đâu.”
Bách Hựu Thanh ngẩn người.
Dân trong trại hễ nhắc tới cổ là biến sắc, né Cổ Tiên như né tà, khoảng thời gian này Bách Hựu Thanh nhìn thấy rõ ràng hết. Nhưng y tạm thời chẳng thể thay đổi được điều gì, lúc này đến cả một câu xã giao an ủi cũng khó thốt ra lời.
“…Được rồi.”
Bách Hựu Thanh quay trở lại chủ đề ban đầu, bảo: “Thế thì bữa cơm này coi như tôi mời cậu không công vậy, lá tầm ma khử ẩm, cá ruộng bổ khí dưỡng huyết, sắc mặt cậu kém quá, nên bồi bổ khí huyết cho đàng hoàng. Tuổi này của chúng ta phải ăn nhiều thịt nhiều cơm thì mới mau lớn được.”
A Ngọc nghiêng đầu nhìn sang, thấy y đang nằm xoài ra mặt bàn gỗ, gối đầu lên tay nhìn mình, dáng vẻ như thể đang bàn luận một chuyện chính sự cực kỳ nghiêm túc.