Bên ngoài hình như đổ mưa, ràn rạt đập vào lá trúc.
Dầu trong chân đèn gốm vẫn đang cháy, ngọn lửa nhảy nhót bập bùng, thứ ánh sáng vàng mờ ảo bao bọc lấy một góc không gian nhỏ cùng hai con người, thổi bóng họ trên mặt đất chao đảo qua lại, lúc thì ghé sát, lúc sau lại tách nhau ra.
Chẳng biết qua bao lâu, Bách Hựu Thanh nghe thấy A Ngọc cất tiếng: “Lớn lên mạnh khoẻ, để làm kiếm tu à?”
“…”
Có lẽ vì người này nói chuyện luôn giữ giọng điệu lạnh lùng, chẳng hề có chút cảm xúc nào, Bách Hựu Thanh không phân biệt nổi người ta đang khích bác hay đơn thuần hỏi thăm, hay đang hỏi thăm một cách khích bác.
Bách Hựu Thanh thấy mặt mình nóng lên, lấy tay che che, ngượng ngùng bảo: “Đừng nhắc tới chuyện này nữa, chỉ là ý định thôi, chưa biết tôi có linh căn không nữa.”
“Có.” A Ngọc nói, “Căn cốt của cậu rất tốt, hợp để tu luyện.”
Nghe thấy câu này, mắt Bách Hựu Thanh sáng rực lên.
“Thật sao?”
“Ừ.”
Trước đây để chuẩn bị cho việc tu tiên, Bách Hựu Thanh đã âm thầm chuẩn bị đủ thứ: đổi linh thạch, rèn thể lực, đọc thêm sách, lại còn cày không ít thoại bản kiếm tu. Thứ tiên quyết y học được từ trong sách chính là: Bước đầu tiên của tu kiếm, trước tiên phải buộc tóc đuôi ngựa cao! Y như được giác ngộ, bèn buộc tóc đuôi ngựa cao rồi xuống đồng làm việc suốt ba ngày, da đầu bị kéo căng đau điếng, ôm đầu chảy cả nước mắt, cuối cùng lại ngoan ngoãn đổi về buộc tóc thấp. Ngay cả chút đau đớn này cũng không chịu nổi, có dạo y từng nghi ngờ bản thân không có tư chất làm kiếm tu.
Thế mà giờ đây lại có người khẳng định chắc chắn với y rằng: Cậu có.
Trong một khoảnh khắc, Bách Hựu Thanh đột nhiên thấy A Ngọc rất chi thuận mắt. Mấy thứ lấn cấn tồn tại trước đó hoàn toàn là do bản thân hẹp hòi nhỏ mọn, có mắt mà không thấy thái sơn.
Y tấm tắc: “Thảo nào người ta gọi cậu là Cổ Tiên, cái này mà cũng nhìn ra được, giỏi ghê luôn á.”
Lời tâng bốc nịnh hót trắng trợn khiến A Ngọc nhìn y với ánh mắt kỳ quặc.
Hai người cứ thế trò chuyện về đường tu đạo, phần lớn thời gian là Bách Hựu Thanh hỏi, A Ngọc đáp. Nói một hồi, y mới biết được tu sĩ bên ngoài không chỉ có sự phân chia về đạo pháp mà cảnh giới tu vi cũng chia thành rất nhiều tầng: nào là Luyện Khí, Trúc Cơ, Kim Đan, Nguyên Anh, Hóa Thần rồi Độ Kiếp phi thăng… Giữa các cảnh giới chênh lệch cực kỳ lớn, không thể so sánh suông.
Ngoài ra, trên thế gian còn có tứ đại tiên môn, thực lực thâm hậu nhất: Điền Đô Thái Dịch Lâu, Kiếm Môn Quan Kiếm Tông, U Cốc Quần Phương Xứ, …
Ban đầu vốn có năm tiên môn, nhưng mấy chục năm trước có một tiên môn ở núi Côn Lôn, tổ sư gia dẫn lôi độ kiếp liên luỵ đến cả môn phái, thậm chí một thiên tài kiếm tu tuyệt thế trong môn phái cũng vì thế mà chết, từ đó người đời chỉ luận tứ đại tiên môn.
Muốn tu kiếm đạo thì lựa chọn hàng đầu dĩ nhiên là Kiếm Tông. So với Thái Dịch Lâu ở Biện Trung hay Quần Phương Xứ vùng Giang Nam, Kiếm Tông cũng gần dãy Phượng Hoàng hơn một chút.
Bách Hựu Thanh tò mò: “Nói mới nhớ, A Ngọc, cậu là đệ tử của tiên môn nào thế?”
Nhắc tới bản thân, thái độ A Ngọc rất đỗi bình thản: “Không môn không phái, cùng lắm chỉ tính là tán tu.”
“Thì ra là vậy… Tôi nhìn trang phục phụ kiện trên người cậu, còn đoán cậu là đệ tử xuất thân từ môn phái lớn hay danh gia vọng tộc nào đó tới đây ngao du tu hành cơ chứ.”
Bách Hựu Thanh cũng chẳng thất vọng, tiện miệng tán dóc: “Nghe nói trong dãy Phượng Hoàng còn có một môn phái lớn chuyên tu cổ thuật, hình như ở phía đông, do rất nhiều vị đồng chủ cai quản, tên là… Bách Cổ Hội? A Ngọc, cậu từng nghe qua chưa?”
Lời vừa thốt ra miệng, Bách Hựu Thanh đã hối hận ngay lập tức, vì y phát hiện sắc mặt A Ngọc trong chớp mắt trở nên cực kỳ tệ, gần như lạnh ngắt. Y tưởng mình nói sai điều gì nên muốn cứu vớt, nhưng A Ngọc đã đứng dậy, cắt ngang: “Thời gian không còn sớm nữa, tôi phải đi rồi.”
“Nhưng bên ngoài mưa to lắm, hay cậu ở lại một đêm đi…”
“Không cần.”
“Thế tôi tiễn cậu.” Bách Hựu Thanh vừa đứng dậy, một luồng gió lạnh cuộn theo hơi nước đột ngột lùa vào trong nhà. Ngọn đèn dầu trên chân gốm lập tức bị thổi tắt ngấm, trước mắt y tối sầm lại, tiếp đó là nghe thấy một loạt tiếng động — toàn bộ cửa sổ và cửa ra vào lần lượt sập đóng lại.
Khi bấc đèn bùng cháy trở lại, trong nhà đã trống không, không còn bóng dáng người thứ hai.
Bách Hựu Thanh vội vã đẩy cửa bước ra, nhưng thấy cánh cửa gỗ ngoài sân cũng đã đóng chặt, mưa như trút nước, núi sâu không một bóng người, rừng rậm trập trùng như sóng trào.
Mưa suốt cả một đêm, Bách Hựu Thanh nằm trên giường nghe mà lòng rối bời.
Y tự kiểm điểm bản thân nói chuyện không giữ kẽ, hễ bàn tới chuyện tu tiên là không kìm lại được, vô tình khiến người ta khó chịu. Cứ trằn trọc suy đi tính lại hồi lâu, y lại thiếp đi lúc nào không hay.
Lúc tỉnh dậy thì mặt trời đã lên cao, trời sáng trưng, ngoài cửa sổ mưa cũng đã tạnh.
Đêm qua Bách Hựu Thanh không nằm mơ, cũng chẳng bị muỗi làm phiền, ngủ một giấc dậy tinh thần vô cùng sảng khoái. Y đang thấy làm lạ, vô tình liếc mắt, phát hiện bên cửa sổ hình như có thứ gì đang bò.
Lại gần nhìn kỹ, ra là một con nhện chân dài. Toàn thân nó trắng muốt như ngọc, đang nhả tơ bắt muỗi. Bị phát hiện, nó lập tức đứng hình ra đó, bốn con mắt tròn xoe chớp chớp nhìn y chằm chằm không dám nhúc nhích.
Bách Hựu Thanh ngồi xổm xuống: “Mày gác suốt một đêm đấy à?”
Con nhện dĩ nhiên không thể trả lời, ôm búi tơ ngượng ngùng quắp chân bò đi mất.
Làm xong việc nhà thì đã gần giữa trưa, Bách Hựu Thanh mang cơm trưa đi thăm ông thọt. Ông thọt vừa nhìn thấy y đã hỏi: “Hôm qua đi đâu thế, đến tận đầu xóm tìm cháu hai lần cũng chẳng thấy đâu hết.”
Bách Hựu Thanh cười: “Thì ra ngoài chơi một vòng thôi, vô tình chạy đi xa quá, ông đừng mách mẹ cháu nhé.”
“Mách mụ thì có tác dụng gì, cháu chẳng phải vẫn chạy đi đấy thôi.” Ông thọt hừ một tiếng, “Cháu từ nhỏ đã là đứa có chủ kiến, đi đâu làm gì bản thân tự biết chừng mực là được. Nhớ năm xưa lúc ông bằng tuổi cháu…”
Lão bắt đầu hồi tưởng lại thời trai trẻ, Bách Hựu Thanh nghe xong hùa theo vài câu cho xong chuyện. Trước khi đi, ông thọt lại hỏi: “Đeo gùi trúc lại định đi đâu đấy?”
Bách Hựu Thanh đáp: “Cây thuốc ở nhà sắp hết rồi, cháu lên núi sau đi sâu hơn một chút để hái thêm trữ sẵn.”
Nét mặt ông thọt trở nên nghiêm nghị: “Hai ngày nay không đụng phải Cổ Tiên đấy chứ?”
Đụng phải rồi, chủ động bắt chuyện, lại còn dẫn về nhà ăn chung bữa cơm nữa cơ.
Bách Hựu Thanh nghĩ trong đầu nhưng ngoài mặt không lộ ra tí nào, hỏi: “Cậu ấy làm sao ạ?”
Ông thọt: “Làm sao là làm sao? Tốt nhất là không gặp, đụng phải thì tránh xa ra, kẻo rước họa vào thân.”
Bách Hựu Thanh ngập ngừng: “Nhưng trước đây cậu ấy còn giúp chúng ta giải quyết Biến Bà mà, chắc là không hại người đâu…”
“Hại người hay không hại người đến lượt ông với mày quyết định chắc? Hơn nữa, chuyện này cũng đâu do nó tự quyết định được.” Ông thọt thở dài, “Cái thứ cổ này ấy mà, nuôi đã không dễ, muốn dứt còn khó hơn. Có mấy loại cổ ghê gớm quá, đến cả chủ nhân cũng không khống chế nổi, chỉ đành thả ra ngoài gây tai họa cho người khác, nếu không thì bản thân phải gánh chịu. Bảo cháu cẩn thận thì cứ nghe đi, nó có hại người hay không ai mà biết được, nhưng ông tuyệt đối không hại cháu đâu.”
Bước ra khỏi nhà ông thọt, Bách Hựu Thanh nhìn thấy dân làng đang tất bật bận rộn trên bãi đất trống, nhất thời ngơ ngác.
Mãi đến khi có người đi ngang qua, y mới sực tỉnh, đi sâu vào núi sau.
Bên thác nước cảnh tượng u tĩnh, Bách Hựu Thanh ngồi xuống thềm đá, đợi khoảng chừng một tuần hương thì thấy một chú bướm phượng xanh thong dong bay tới.
Con bướm đậu xuống giữa khóm hoa, vỗ nhẹ cánh một cái rồi lặng yên không nhúc nhích. Y nhìn con bướm một lúc, bèn ngắt một chiếc lá cây bên cạnh mà thổi, tiếng còi lá trong trẻo ngân vang làm kinh động đàn chim nhỏ, vỗ cánh chao nghiêng quanh thung lũng. Chẳng mấy chốc, phía sau vang lên tiếng bước chân thong thả không nhanh không chậm, Bách Hựu Thanh hạ chiếc lá xuống, ngoảnh đầu lại bảo: “Tôi cứ tưởng cậu không thèm đoái hoài tới tôi nữa cơ.”
A Ngọc đứng dưới một cây thủy thanh toả bóng râm mát, gương mặt khuất trong bóng cây, đôi mắt đen thăm thẳm.
“Cậu không nên tới đây.” Hắn nói, “Đã có người nhắc nhở cậu rồi.”
Bách Hựu Thanh gật gật đầu: “Đúng thế, thế nên tôi mới lén lút tới nè, họ không phát hiện ra đâu.”
A Ngọc chằm chằm nhìn y nửa ngày, hỏi: “Cậu không sợ à?”
“Sợ cái gì, sợ cổ trùng hả?” Bách Hựu Thanh ngạc nhiên, “Trong núi sâu lắm sâu bọ thế này, rết độc rồi sâu róm ngàn chân, dưới cái lá nào mà chẳng có, nếu cái gì cũng sợ thì làm sao bước chân ra đường được.”
A Ngọc hạ giọng: “…Cổ không phải là sâu bọ bình thường.”
Điều này Bách Hựu Thanh cũng đồng ý: “Đúng là không bình thường, gớm ghê hơn nhiều, lại còn thông minh nữa.” Nói xong, y phủi phủi quần đứng dậy, “Tối qua sau khi cậu đi tôi liền ngủ một mạch tới sáng, lâu lắm rồi không có giấc ngủ ngon tới vậy, cảm ơn cậu đã để con nhện lại gác nhé.”
A Ngọc phủ nhận: “Không phải tôi.”
“Ừm ừm, tôi biết rồi, là tự nó muốn ở lại đúng không?”
“…”
A Ngọc im bặt không thèm lên tiếng nữa, Bách Hựu Thanh buồn cười, tiến lại gần hỏi: “Bây giờ cậu có rảnh không?”
A Ngọc nhìn y: “Lại có chuyện gì nữa?”
Bách Hựu Thanh gạ gẫm: “Có muốn cùng lên núi hái thuốc, rồi tiện thể hái ít rau rừng không? Ngày nào cũng ăn cá ngán rồi, tối nay đổi món khác nhé.”
A Ngọc nhíu mày: “Tôi không phân biệt được thảo dược.”
Bách Hựu Thanh dẫn hắn đi: “Tôi dạy cậu, cậu giỏi thế này học nhanh lắm, nhận biết dăm ba cái cây thuốc rau rừng chắc chắn không thành vấn đề.”
A Ngọc rủ mi mắt xuống, nhìn tay áo mình đang bị nắm lấy nhẹ nhàng, chẳng nói chẳng rằng.
Bách Hựu Thanh đã quá quen thuộc địa hình núi, hầu như chẳng có loại cỏ cây nào y không biết, vừa đi vừa giới thiệu suốt chặng đường, loại nào ngon loại nào dở, chỗ nào đào măng chỗ nào hái nấm, giải thích rõ ràng mạch lạc. A Ngọc tiếp thu cũng rất nhanh, chỉ nhìn qua một lần là biết làm. Mới chưa đầy một canh giờ, gùi trúc đã được hai người chất đầy ắp, rau rừng hoa quả dư ra đành phải ôm trên tay.
“Cái này là hoa mộc khương, hay còn gọi là cây màng tang. Hoa có thể làm nộm, hoặc làm gia vị chế nước sốt thịt, nấu canh, kho cá đều ngon. Cạo vỏ rễ ra chiên trứng thơm cực kỳ, hạt nó kết lại còn làm ruột gối được, có tác dụng an thần ru ngủ. Tóm lại tất cả các bộ phận đều dùng được.”
Bách Hựu Thanh bẻ hai nhánh hoa mộc khương, chia cho A Ngọc một nhánh: “Cậu ngửi thử xem, có thích không?”
Những nụ hoa màu xanh xám lốm đốm như vì sao, dáng như hoa mai, sắc như kim quế, mùi thơm u nhã quấn quít khoang mũi, khiến người ta dễ chịu.
A Ngọc đỡ lấy nhánh hoa, ghé mũi ngửi ngửi rồi nhẹ nhàng gật đầu.
Bách Hựu Thanh vẻ mặt “phẩm vị không tồi”: “Thế thì tốt, tôi thích ăn cái này nhất, tiếc là mẹ tôi không khoái ăn, chê mùi hăng quá, giống mùi gừng sống, chịu không nổi.”
A Ngọc không hiểu: “Mùi gừng sống?”
Bách Hựu Thanh ngẫm nghĩ: “Thật ra tôi thấy giống mùi sả hơn, cậu ăn bao giờ chưa?”
A Ngọc lắc lắc đầu.
“Không sao cả, tôi biết làm hết, lần sau cho cậu ăn thử.” Bách Hựu Thanh xắn hai bên tay áo lên bảo, “Hôm nay cứ hái một ít về trước đã. Làm nộm rồi cho thêm hai vắt mì trứng. Chỗ còn dư đem phơi khô, cậu mang về mà pha trà uống, khí huyết lưu thông, còn giữ ấm dạ dày.”
Y không đủ cao, muốn hái hoa phải trèo lên trèo xuống, rất mất công. Thấy cảnh đó, A Ngọc thầm thì một tiếng gì đó rồi vén tay áo lên bảo: “Đi đi.”
Rắn bạc nghe lệnh chui ra, bò lên thân cây rồi quất mạnh đuôi một cái, mấy cành hoa đứt lìa rơi xuống, được Bách Hựu Thanh hứng trọn dưới gốc cây. Chẳng mấy chốc hoa đã hái được kha khá, hai người thu hoạch đầy gùi cùng nhau xuống núi.
Rắn bạc không rúc vào trong tay áo nữa, vẫn quấn trên cánh tay A Ngọc, coi tay hắn như cành cây mà nằm đó, thỉnh thoảng mới thè lưỡi ra. Bách Hựu Thanh vừa đi vừa ngắm, lại thấy khá đáng yêu, hỏi: “Nó tên là gì thế?”
A Ngọc trả lời: “Không có tên.”
Bách Hựu Thanh ồ lên một tiếng, tiếc rẻ: “Thế con rết với con nhện cũng chưa đặt tên sao?”
A Ngọc khó hiểu: “Tại sao phải đặt tên cho sâu bọ?”
“Thì gọi cho tiện chứ sao.” Bách Hựu Thanh vừa dứt lời, rắn bạc đã nhoài tới, ngơ ngẩn gác đầu lên tay y. Lớp vảy mát lạnh nhẵn thín lướt qua lòng bàn tay nhồn nhột, nhịn không được bật cười: “Cậu xem, nó cũng đồng ý kìa, hay là đặt một cái tên nhé?”
A Ngọc mặt không cảm xúc nhìn con rắn đang nịnh bợ người ta, ngoảnh đầu đi chỗ khác: “Tùy cậu.”
Căn cứ theo kích thước to nhỏ, Bách Hựu Thanh đặt tên cho mấy cổ trùng y từng gặp: rắn bạc to nhất nên là Lão Đại; nhện bạch ngọc xếp thứ hai gọi là Bé Hai; rết đen chân đỏ đứng thứ ba, tính nết hung hãn nhất gọi là Tam Nương Nương; bướm phượng xanh nhỏ nhất lại rực rỡ hoa lá cành nên mang tên mỹ miều là Tiểu Thuý Hoa.
Biểu cảm của A Ngọc khó nói thành lời, rõ ràng là không dám khen ngợi trình độ đặt tên của y, chỉ hỏi: “Sao con cuối cùng lại khác?”
Bách Hựu Thanh cười hì hì: “Vì nó đẹp nhất mà!”
“…”
Liên tiếp mấy ngày liền, Bách Hựu Thanh đều tới núi sau tìm A Ngọc. A Ngọc tuy không nói năng gì nhưng cũng ngầm đồng ý mà đi theo y. Ban ngày hai người đi hái lượm trong rừng, buổi tối lại vắt óc đổi món nấu nướng.
A Ngọc trông thì có vẻ cành vàng lá ngọc, nhưng ăn uống lại không hề kén chọn, nấu gì ăn nấy, ăn xong còn biết thu dọn bàn ăn, dễ chiều hơn ông thọt kén ăn nhiều. Sau một thời gian vỗ béo, tuy sắc mặt hắn vẫn nhợt nhạt như cũ nhưng môi đã có thêm chút sắc hồng, nhìn chung đã có thêm vài phần sức sống, đến cả số lần cất lời cũng nhiều hơn.
Dần dần, mối quan hệ giữa hai người cũng trở nên thân thiết hơn nhiều.
Mới đầu Bách Hựu Thanh vào núi còn phải thổi còi lá để gọi người, giờ đây chỉ cần đeo gùi trúc bước ra khỏi cổng nhà là Tiểu Thuý Hoa đã thong thả đậu lên vai y, đến lúc tới nơi thì A Ngọc đã đứng đợi sẵn bên thác nước rồi.
“Hôm nay muộn.” A Ngọc bảo.
“Tôi chuộc lỗi nè, mang bánh nếp vàng cho cậu đây.” Đi tới trước mặt, Bách Hựu Thanh đưa cho hắn một gói bánh nhỏ, “Trước đây chưa làm mấy lần nên tốn chút thời gian, ăn đi cho nóng.”
Bánh làm từ gạo nếp, được bọc vuông vức trong vỏ măng già, vẫn còn nóng, ngửi thoáng qua có mùi thơm thanh mát của lá trúc. A Ngọc nhận lấy bánh, rắn bạc chậm chạp mò tới gần, nhưng còn chưa đụng tới bánh nếp đã bị hắn ấn đầu nhét trở lại vào trong tay áo.
Bách Hựu Thanh kinh ngạc: “Cổ trùng không ăn được gạo nếp à?”
“Ăn được.” A Ngọc vô tình bảo, “Nhưng không có phần của nó.”
Bách Hựu Thanh nghe vậy bèn nhìn rắn bạc với ánh mắt thương cảm, không giúp gì được.
Con rắn bất lực, đành ngoạm một cái vào tay áo A Ngọc.
Hôm nay không có nhiều thời gian, hai người chỉ hái được một giỏ rau khúc, Bách Hựu Thanh tính dùng để làm bánh Thanh Đoàn.
(*) Bánh thanh đoàn tử (青团子): món bánh truyền thống của Trung Quốc, đặc trưng bởi màu xanh ngọc bích và vị ngọt bùi, thường ăn vào tiết Thanh Minh hoặc tết Hàn Thực.
Chập tối lúc hai người trở về nhà, y tiếp tục vạch kế hoạch: “Người xưa có câu ‘Tháng xuân ăn hoa, tháng hạ ăn nấm’, mai chúng ta ra ngoài sớm chút. Hái thêm nhiều loại hoa trữ sẵn, hoa kim tước, hoa lê rừng, hoa sơn mộc lan, tụi mình đều thử hết, chắc chắn sẽ có loại cậu thích.”
A Ngọc vừa đi vừa rủ mi lặng lẽ nghe, mãi đến khi câu nói tiếp theo của Bách Hựu Thanh vang lên: “Nhưng đợi hai ngày nữa chắc tôi không tới được rồi.”
Bước chân A Ngọc khựng lại một nhịp.
Hắn hỏi: “Tại sao?”
“Tính thời gian thì mẹ tôi sắp về rồi, bà không cho phép tôi về muộn, sau này không có nhiều cơ hội tới tìm cậu thế này nữa đâu.” Bách Hựu Thanh cố tình trêu: “Sao thế, ở chung vài ngày rồi không nỡ xa tôi hả?”
A Ngọc bình tĩnh hỏi lại: “Cậu nói năng với những người khác cũng không giữ kẽ thế à?”
“Trêu chút thôi mà.” Bách Hựu Thanh ngước nhìn lên trời, thấp giọng xuống, “Trước đây một mình tôi vào núi, thỉnh thoảng có A Hoàng đi cùng, nhưng phần lớn thời gian đều rất chán. Mấy ngày nay có cậu ở đây, hai người cùng đi có thể chăm sóc lẫn nhau, vừa an tâm vừa vui vẻ hơn. Hễ nghĩ tới sau này lại phải đi một mình, tôi đã thấy không nỡ rồi.”
“…” A Ngọc: “Cho nên là cậu không nỡ xa tôi.”
Tuy sự thật là như thế, nhưng bị hắn nói ra thẳng thừng, Bách Hựu Thanh lại đâm ngượng ngùng, ngón tay xoắn loạn ngọn tóc: “Thì… cũng có một xíu.”
A Ngọc im lặng một lúc rồi bảo: “Chúng ta có thể gặp nhau, chỉ cần không để người khác thấy là được.”
Bách Hựu Thanh chớp chớp mắt.
“Ý là lúc nào tôi cũng có thể tới tìm cậu chứ gì?” Y đùa giỡn, “Nếu tôi không tới được thường xuyên thì cậu đừng có quên tôi đấy.”
A Ngọc nhỏ giọng: “Tôi sẽ không đợi quá lâu đâu.”
Thế tức là vẫn sẽ đợi. Bách Hựu Thanh gật đầu hiểu ý, y đã nắm bắt rất rõ cách nói chuyện của người này.
Buổi tối ăn cơm xong A Ngọc liền rời đi, Bách Hựu Thanh cũng đi ngủ sớm.
Dưới sự gác đêm tận tụy của Bé Hai, y lại có một giấc ngủ ngon không mộng mị, ngày hôm sau khi trời vừa hửng sáng thì bị tiếng gà gáy thức giấc. Lúc bước ra khỏi phòng y vẫn còn ngái ngủ, ngáp ngắn ngáp dài, nhưng vừa nhìn thấy cảnh tượng ngoài sân đã tỉnh ngủ ngay lập tức.
Trước cửa nhà đặt mấy giỏ hoa đầy ắp đủ sắc màu tươi thắm, hoa kim tước, hoa lê rừng rồi hoa sơn mộc lan đều có đủ. Trong sân đã được quét dọn sạch sẽ không thấy đến một chiếc lá rụng, chổi cọ xếp gọn gàng ở góc tường, củi trong kho chứa chất đống ngay ngắn ngăn nắp, đủ dùng trong một thời gian dài.
Ai đã tới đây, không nói cũng biết.